1900 055 586

Quyền nhân thân là gì?

04/02/2021 | 211 Lượt xem

1.   Căn cứ pháp lý

Bộ luật dân sự 2015

2.   Quyền nhân thân là gì?

Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác, hiện nay khái niệm quyền nhân thân được quy định tại khoản 1 Điều 25 Bộ luật dân sự năm 2015.

Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý theo quy định của Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án.

Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó; trường hợp không có những người này thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết, trừ trường hợp Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan quy định khác.

3.   Tư vấn quyền nhân thân trong bộ luật dân sự

Quyền nhân thân là quyền của cá nhân đối với các giá trị nhân thân của mình được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân như quyền xác định dân tộc, quyền xác định lại giới tính, chuyển đổi giới tính, quyền kết hôn, quyền ly hôn, quyền nhận nuôi con nuôi…

Mục 2 Chương 3 BLDS năm 2015 quy định về quyền nhân thân đã giới hạn phạm vi chủ thể của quyền nhân thân được quy định trong Mục 2 này chỉ bao gồm quyền nhân thân của cá nhân mà không quy định về quyền nhân thân của pháp nhân.

Trong khoa học pháp lý cũng như trên thực tế, thuật ngữ quyền nhân thân thường bị nhầm lẫn với khái niệm giá trị nhân thân. Giá trị nhân thân là những giá trị tinh thần gắn liền với cá nhân, có từ khi cá nhân sinh ra và không phải mọi giá trị nhân thân đều được xác định là quyền nhân thân mà chỉ những giá trị nhân thân được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ thông qua việc luật hóa thì mới được coi là quyền nhân thân.

Có rất nhiều các cách thức khác nhau để phân loại quyền nhân thân, trong đó, cách thức phân loại quyền nhân thân phổ biến là dựa vào đối tượng của quyền nhân thân. Theo cách thức phân loại này, quyền nhân thân được phân thành 5 nhóm sau đây:

·      Nhóm các quyền cá biệt hoá chủ thể. Ví dụ: Quyền xác định dân tộc; quyền xác định lại giới tính;

·      Nhóm các quyền liên quan đến thân thể của cá nhân. Ví dụ: Quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; quyền hiến bộ phận cơ thể; quyền nhận bộ phận cơ thể người;

·      Nhóm các quyền liên quan đến giá trị tinh thần của chủ thể. Ví dụ: Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền bí mật đời tư;

·      Nhóm các quyền liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình của cá nhân. Ví dụ: Quyền kết hôn; quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình; quyền li hôn;

·      Nhóm các quyền đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Ví dụ: Quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm.

4.   Đặc điểm của quyền nhân thân

Quyền nhân thân gắn liền với mỗi chủ thể nhất định và về nguyên tắc quyền không thể chuyển giao cho các chủ thể khác. Tuy nhiên, trong một số trường hợp luật định thì quyền nhân thân có thể dịch chuyển được. Ví dụ: Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 ghi nhận quyền công bố tác phẩm của các tác giả các tác phẩm, các đối tượng sở hữu công nghiệp có thể được chuyển giao chủ thể khác mà không phải trong mọi trường hợp tác giả là người công bố;

Quyền nhân thân không xác định được bằng tiền, quyền nhân thân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương nên không thể trao đổi ngang giá. Trong trường hợp, quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm (như xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân…) thì chủ thể chịu trách nhiệm phải bồi thường cho cá nhân một khoản tiền.

Cá nhân tự thực hiện các hành vi để xác lập, thực hiện các quan hệ nhân thân cho chính mình. Tuy nhiên, đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của những người này phải được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý hoặc theo quyết định của Tòa án.

Ví dụ: Trẻ sơ sinh được cha mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh. Quy định này xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích chính đáng của các cá nhân khi mà khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của họ không được đầy đủ.

Đối với người bị tuyên bố mất tích, người bị tuyên bố là đã chết, việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con đã thành niên của người đó hoặc của cha, mẹ của họ.

Những cá nhân bị tuyên bố mất tích hoặc bị tuyên bố là đã chết thì năng lực chủ thể của họ bị tạm dừng hoặc chấm dứt nên những vấn đề liên quan đến nhân thân của những người này không thể được thực hiện thông qua người đại diện giống như những cá nhân không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (quan hệ đại diện xác lập với những người còn sống). Bởi vậy, người thân thích trong gia đình sẽ là người quyết định vấn đề xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của các cá nhân này.

So với Điều 24 BLDS năm 2005, khoản 2 Điều 25 BLDS năm 2015 đã bổ sung thêm quy định về phương thức xác lập, thực hiện quyền nhân thân cho một số chủ thể vì lý do năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ (người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi) hoặc vì lý do tư cách chủ thể bị tạm dừng hoặc chấm dứt (người bị tuyên bố mất tích, người bị tuyên bố là đã chết) mà không thể trực tiếp xác lập, thực hiện các quan hệ nhân thân liên quan đến chính mình.

Đây là một điểm bổ sung cần thiết, phù hợp của BLDS năm 2015 và sự bổ sung này đã khắc phục được lỗ hổng của Điều 24 BLDS năm 2005. Bên cạnh nội dung mới, có tính chất tích cực thì Điều luật này cũng còn có sự hạn chế khi khoản 1 Điều 25 đưa ra khái niệm về quyền nhân thân nhưng chưa bao quát đầy đủ các đặc điểm của quyền này như quyền nhân thân là quyền không trị giá được thành tiền.

Trên đây là nội dung vềQuyền nhân thân Công ty Luật TKB gửi tới Quý khách hàng. Nội dung tư vấn chỉ mang tính chất tham khảo tại thời điểm có hiệu lực hiện hành của các văn bản quy phạm pháp luật. Để được hướng dẫn chi tiết, hiệu quả quý khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi theo số hotline: 1900 055 586.

Trân trọng!

Đăng ký tư vấn với chúng tôi
Đăng ký để được tư vấn chi tiết các thủ tục pháp lý.
THỦ TỤC THAY ĐỔI HỌ TÊN TRÊN GIẤY KHAI SINH

Họ, tên và vấn đề hộ tịch quan trọng và sẽ theo một cá nhân đến hết cuộc đời của họ. Do vậy, có rất nhiều trường hợp cá nhân có nhu cầu thay đổi họ và tên của mình nhưng chưa nắm rõ các quy định của pháp luật liên quan đến việc thay đổi này.

ĐIỀU KIỆN VÀ THỦ TỤC NHẬN CON NUÔI

Với nhiều lý do và mục đích khác nhau, việc nhận con nuôi trong đời sống xã hội Việt Nam đã tồn tại từ lâu và dần trở nên phổ biến. Việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có thể được thực hiện theo những cách thức khá nhau, Tùy theo sự lựa chọn của cá nhân trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Tuy nhiên có thể phân thành hai cách thức điển hình đó là xác lập quan hệ nuôi con nuôi về mặt xã hội và quan hệ nuôi con nuôi về mặt pháp lý. Để quan hệ nuôi con nuôi được đảm bảo bởi pháp luật thì người nhận con nuôi phải làm thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh

Quyền cá nhân đối với hình ảnh được pháp luật ghi nhận và bảo vệ có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi cá nhân, đây là yếu tố tinh thần gắn liền với mỗi cá nhân, hình ảnh của mỗi cá nhân bị xâm phạm không chỉ ảnh hưởng về mặt tinh thần mà còn ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm… Tuy nhiên, quy định của pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập.

CÔNG TY LUẬT TNHH TKB

Địa chỉ: Tầng 3, căn hộ LK2B-10 dự án khu nhà liền kề khu đô thị Mỗ Lao, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.

Holine: 1900 055 586  

Email: info@tkblaw.vn

Website: https://tkblaw.vn/

 

THỐNG KÊ ONLINE

FACEBOOK

đăng ký
ĐĂNG KÝ TƯ VẤN
© 2020 TKB. All Rights Reserved
facebook
zalo